| (16/12/2009 03:14:03 PM - TTTNTV) Số lượng nguồn gen cần lưu giữ được tính toán dựa trên bốn tiêu chí chính (theo Tiêu chuẩn ngân hàng gen do FAO và IPGRI ban hành năm 1994): - Sự giàu có về tài nguyên thực vật của nước ta. Việt Nam là quốc gia có diện tích và dân số vào loại trung bình trên thế giới (330.991,5 km2, trên 80 triệu dân. Đất nước có 54 dân tộc), lãnh thổ trải dài từ 8030 đến 23030 vĩ bắc. Hai phần ba diện tích là đồi núi, trên 3000 km bờ biển, có hai đồng bằng châu thổ lớn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, xen lẫn một số đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới. Do những điều kiện trên nên tài nguyên thực vật của nước ta bao gồm cả những loài cây ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới. Việt Nam cũng là một trong những nước sớm có nền văn minh nông nghiệp, số lượng các loài, giống cây trồng rất phong phú. Vì vậy nước ta được thế giới đánh giá là một trong 15 quốc gia giàu có nhất về tài nguyên thực vật, nằm trong một của tám trung tâm khởi nguyên và nằm trong một của mười hai trung tâm đa dạng di truyền quỹ gen cây trồng trên toàn Thế giới. Số liệu điều tra gần đây cho thấy nước ta có trên 14.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có 150 loài cho tinh bột, 130 loài cây ăn quả, 100 loài cây lấy dầu, 90 loài cây lấy sợi, 1.000 loài cây lấy gỗ và trên 2000 loài cây làm thuốc và hàng trăm loài cây gia vị và cây hương liệu. Hiện nay, cả nước đang khai thác, sử dụng 700 loài cây trồng, những nhóm chủ yếu là: - Cây trồng lấy tinh bột làm lương thực: 39 loài - Cây trồng làm lương thực không phải là tinh bột: 95 loài - Cây trồng ăn quả: 104 loài - Cây trồng làm rau: 55 loài - Cây trồng lấy dầu: 44 loài - Cây trồng lấy sợi: 16 loài - Cây trồng để sản xuất đồ uống: 12 loài - Cây trồng làm gia vị: 39 loài - Cây trồng làm hương liệu: 19 loài - Cây trồng để che phủ đất trống đồi trọc: 29 loài
Đặc biệt trong số trên 2000 loài cây thuốc thuộc 263 chi, khoảng 700 loài đã được ghi trong sách thuốc. 150 - 180 vị thuốc lấy từ các cây thuốc được sử dụng trong các bài thuốc truyền thống. Khoảng 120 loài cây thuốc được người dân địa phương sử dụng đặc biệt là người dân vùng núi và khu vực nông thôn. Trong khi đó, hiện nay do hạn chế về cơ sở vật chất phục vụ bảo tồn (kho lạnh, đồng ruộng ...) cũng như mức độ đầu tư cho thu thập, số lượng nguồn gen đang lưu giữ tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia và các cơ quan mạng lưới của Hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật mới chỉ là khoảng 24.500 của gần 400 loài cây trồng. Các loài cây thuốc chưa thu thập hết và chưa được lưu giữ trong Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia. Nhiều loài cây chưa được triển khai bảo tồn được do thiếu kinh phí và thiết bị công nghệ. Những năm gần đây, do tốc độ phát triển kinh tế xã hội nói chung và chuyển đổi cơ cấu cây trồng nói riêng trong nông nghiệp, quỹ gen cây trồng trong sản xuất và trong tự nhiên đang bị suy giảm, mất mát rất nhanh. Nhà nước cần cấp bách đầu tư thu thập đưa vào lưu giữ ngân hàng gen để ngăn chặn quả trình mất mát nói trên. Hệ thống kho lạnh bảo tồn ex-situ cần được hiện đại hóa để đủ sức lưu giữ số lượng lớn nguồn gen sau khi thu thập. - Nguồn gen được nhập nội thông qua hợp tác và trao đổi quốc tế trong thời kỳ hội nhập, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Thời gan vừa qua, mỗi năm riêng Trung tâm Tài nguyên thực vật nhập nội 300 – 500 nguồn gen từ các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp quốc tế và một số quốc gia để phục vụ nghiên cứu khoa học và sản xuất. Rất nhiều nguồn gen do các cơ quan khác nhập nội, nhưng sau khi đánh giá khẳng định có những đặc tính quý đã không được đưa vào lưu giữ tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia do chưa có biện pháp tổ chức thống nhất. Thời gian tới, do nhu cầu nhập nội nguồn gen tăng trong môi trường hội nhập quốc tế thuận lợi, cần lưu giữ tất cả các nguồn gen nhập nội sau khi được đánh giá phát hiện những đặc tính quý phục vụ cho nhu cầu khai thác sử dụng của nước ta. - Nguồn gen sinh ra do cải tạo nguồn gen gốc. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc bảo tồn nguồn gen cây trồng là làm giàu quỹ gen (Genetic enhancement). Những năm vừa qua do nhân lực và cơ sở vật chất còn hạn chế, Trung tâm Tài nguyên thực vật phải ưu tiên cho những nhiệm vụ cấp bách khác mà chưa có điều kiện triển khai nhiệm vụ làm giàu quỹ gen. Những năm tới, khi xúc tiến làm giàu quỹ gen, rất nhiều nguồn gen mới sinh ra. Công tác chọn tạo giống mới và xu hướng khai thác sử dụng nguồn gen ở trình độ công nghệ cao cũng sẽ sản sinh ra rất nhiều nguồn gen mới từ nguồn gen gốc. Các nguồn gen mới sinh ra cần được lưu giữ ngân hàng gen để phục vụ cho việc tiếp tục khai thác sử dụng lâu dài. - Trách nhiệm quốc tế của Việt Nam trong việc lưu giữ nguồn gen một số tập đoàn quỹ gen cơ bản mang tính khu vực và quốc tế. Hầu hết những Ngân hàng gen quốc gia của các nước đủ tiêu chuẩn quốc tế đều có trách nhiệm lưu giữ kép tập đoàn nguồn gen quốc tế. Nước lưu giữ vừa được hưởng lợi từ những tập đoàn đó vừa đảm bảo nguồn gen không bị mất đi khi nước sở hữu chưa có đủ năng lực lưu giữ hay thảm hoạ (thiên tai, chiến tranh, thay đổi chính trị ...). Ví dụ hầu hết các tập đoàn quỹ gen cây trồng của Liên Xô cũ được giữ kép tại Ngân hàng gen quốc gia của Cộng hòa liên bang Đức. Pháp, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc... đều giữ nhiều tập đoàn quỹ gen lúa, rau và cây ăn quả của các nước châu Á, châu Phi ... Do vậy chúng ta cần phải xây dựng Ngân hàng gen thực vật quốc gia có năng lực bảo tồn từ 100.000 đến 120.000 nguồn gen của các loài cây trồng và nhiều loài thực vật quan trọng bao gồm cả cây thuốc và cây lâm nghiệp.
KSC. Nguyễn Tiến Hưng |